BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

 

 

THÔNG TIN BÁO CHÍ

 

 

Hội nghị trực tuyến “Khoa học và Công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội”

 

 

Hà Nội, ngày 02/01/2017

Năm 2016 là năm diễn ra Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, năm đầu của nhiệm kỳ 2016-2020, có vai trò định hướng phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị quyết, Chương trình hành động với mục tiêu tiếp tục tập trung đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Trong bối cảnh đó, ngành khoa học và công nghệ (KH&CN) đã tập trung xây dựng, triển khai thực hiện các nội dung, Chương trình hành động thực hiện các Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội, Nghị quyết của Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội, trong đó trọng tâm là các nhiệm vụ, giải pháp của ngành để đưa KH&CN trở thành yếu tố trọng yếu nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; tập trung cải cách thủ tục hành chính, triển khai chính phủ điện tử, hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (ĐMST), cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Ngoài ra, ngành KH&CN đã kịp thời tham gia ứng phó với các sự cố phát sinh như tình hình hạn hán và xâm nhập mặn diễn ra trong thời gian dài tại Vùng Đồng bằng sông Cửu Long, hiện tượng hải sản chết bất thường xảy ra tại 04 tỉnh miền Trung.

 

 

* Công tác xây dựng cơ chế, chính sách, hoàn thiện hệ thống pháp luật về KH&CN:

 

 

Năm 2016, hệ thống pháp luật về KH&CN tiếp tục được hoàn thiện theo hướng gắn kết, phục vụ trực tiếp việc nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh; tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh, chuyển giao, đổi mới công nghệ; hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp và đầu tư cho khởi nghiệp ĐMST; triển khai các hoạt động kết nối cung - cầu công nghệ, phát triển thị trường KH&CN. Các nhiệm vụ trọng tâm gồm: Hoàn thiện dự án Luật Chuyển giao công nghệ (sửa đổi) trình Quốc hội và báo cáo giải trình tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội đối với dự án Luật tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV; Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa các nội dung về quỹ đầu tư mạo hiểm vào Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm khuyến khích đầu tư mạo hiểm cho hoạt động ĐMST; Rà soát nội dung vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (sửa đổi), Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước (sửa đổi), Luật Quản lý ngoại thương, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, Nghị quyết về một số giải pháp nhằm tháo gỡ  khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh sự phát triển của doanh nghiệp và các luật chuyên ngành về KH&CN gửi Văn phòng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp, báo cáo Chính phủ. Hoàn thành và trình Chính phủ đúng thời hạn 03 Nghị định về điều kiện kinh doanh để tháo gỡ khó khăn, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.

Năm 2016, Ủy ban Thường vụ Quốc hội triển khai nội dung Giám sát chuyên đề “Hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển KH&CN nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giai đoạn 2005-2015 và định hướng phát triển giai đoạn tới, trong đó chú trọng đẩy mạnh công nghiệp hỗ trợ và cơ khí chế tạo”. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ KH&CN đã phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng báo cáo tổng hợp phục vụ nội dung giám sát, các báo cáo chuyên đề để phục vụ triển khai hoạt động giám sát tại các địa phương, vùng kinh tế và báo cáo phục vụ nội dung giám sát về đóng góp của khoa học xã hội và nghiên cứu chính sách thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa; trực tiếp tham dự các cuộc họp, buổi làm việc của Đoàn Giám sát với các bộ, ngành, địa phương về những nội dung nêu trên. Căn cứ vào kết quả giám sát, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 279/NQ-UBTVQH14 ngày 02/11/2016 về nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển khoa học, công nghệ nhằm thúc đẩy CNH, HĐH giai đoạn 2015-2020, trong đó đẩy mạnh công nghiệp hỗ trợ và cơ khí chế tạo. Ngoài hoạt động giám sát của Quốc hội, trong năm 2016 Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng có hoạt động giám sát về KH&CN tại nhiều địa phương trong cả nước. Hoạt động giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, của Trung ương mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ hội để ngành KH&CN nhìn lại chặng đường 10 năm xây dựng, triển khai các cơ chế, chính sách phát triển KH&CN, đề ra các nhiệm vụ, giải pháp khả thi để phát triển KH&CN nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời gian tới.

 

 

* Hoạt động khoa học xã hội, nhân văn phục vụ hoạch định chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh

Khoa học xã hội và nhân văn đã và đang thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu, cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ sự lãnh đạo của Đảng, giúp các cơ quan chức năng hoạch định chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, xây dựng đất nước bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Năm 2015, 2016 các kết quả nghiên cứu đã phục vụ trực tiếp xây dựng Báo cáo tổng kết 30 năm đổi mới (1986-2016) và soạn thảo các dự thảo văn kiện Đại hội XII và các Hội nghị Trung ương Đảng, cụ thể: (1) Làm rõ cục diện thế giới và khu vực, những biến động gần đây tác động đến Việt Nam, dự báo tình hình sắp tới; làm rõ hơn vấn đề quốc gia, dân tộc trong thế giới đương đại; nhận thức, xử lý quan hệ với các nước lớn, các nước láng giềng để có chính sách hợp lý. (2) Đề xuất những quan điểm, giải pháp mới về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cho giai đoạn 2016-2020, tầm nhìn 2030. (3) Đề xuất được hệ tiêu chí nước công nghiệp theo hướng hiện đại của Việt Nam; đưa ra quan niệm, nội hàm, tiêu chí đánh giá phát triển bền vững; đề xuất hệ thống quan điểm mới, hệ giải pháp đồng bộ bảo đảm phát triển bền vững ở Việt Nam đến năm 2030; những quan điểm cơ bản về mô hình tăng trưởng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, định hướng mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời kỳ mới. (4) Đổi mới, hoàn thiện các chính sách kinh tế vĩ mô và các chính sách kinh tế trong một số ngành cụ thể, đẩy mạnh thương mại quốc tế, đổi mới công nghệ tiếp thị, xúc tiến các hoạt động marketing trong nước và quốc tế, nâng cao năng lực quản trị kinh doanh, phát triển thương mại điện tử của các doanh nghiệp. (5) Cung cấp luận cứ mới để hoàn thiện định hướng nhiệm vụ phát triển văn hóa, đưa ra hệ giá trị con người Việt Nam, nêu ra 5 nhóm giải pháp chủ yếu để hiện thực hóa hệ giá trị định hướng cốt lõi này vào cuộc sống. (6) Nghiên cứu một số vấn đề xã hội trong tình hình mới như định hướng hoàn thiện chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, vấn đề liên minh giai cấp, tôn giáo, dân tộc ở nước ta trong điều kiện mới. (7) Những vấn đề về bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trong tình hình mới, gắn với những sự kiện đang diễn ra ở Biển Đông, biên giới trên bộ. (8) Những khái niệm đầy đủ hơn về hội nhập quốc tế, làm rõ những vấn đề mới đặt ra đối với Việt Nam. (9) Các nghiên cứu về đổi mới hệ thống chính trị, thực hành dân chủ, xây dựng Đảng cầm quyền trên cơ sở tổng kết những vấn đề do thực tiễn đặt ra đã đóng góp nhiều luận cứ mới về tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước, định hướng lớn và những giải pháp để hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. (10) Giải quyết các vấn đề phát triển vùng, chú trọng đến các trụ cột phát triển bền vững và liên kết vùng, gắn với quy hoạch tổng thể và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

 

 

* Hoạt động KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh:

- Trong lĩnh vực sản xuất nông, lâm, thủy sản: Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, KH&CN là động lực giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong tăng trưởng. Tỷ lệ áp dụng máy móc, thiết bị trong sản xuất nông nghiệp có mức gia tăng 1-2% so với năm 2015. Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các tiến bộ KH&CN đã đóng góp khoảng 30%-40% vào tăng trưởng nông nghiệp, tùy theo lĩnh vực cụ thể. Các kết quả KH&CN đã được ứng dụng trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất nông nghiệp từ nghiên cứu, chọn tạo giống cây trồng, vật nuôi; kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc, canh tác; thức ăn chăn nuôi; phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y; kỹ thuật chế biến, bảo quản sau thu hoạch. Trong đó, quan trọng nhất là khâu chọn tạo giống mới cây trồng, vật nuôi theo hướng tăng năng suất, nâng cao chất lượng thay thế giống nhập ngoại (từ chỗ nhập khẩu 70% giống cây trồng, vật nuôi, hiện nay chỉ còn nhập dưới 30%). Các nhà khoa học Việt Nam đã nghiên cứu chọn, tạo được trên 100 giống cây trồng mới. Các kết quả KH&CN được ứng dụng trong nông nghiệp đã giúp Việt Nam trở thành một trong những quốc gia dẫn đầu về xuất khẩu nông, lâm, thủy sản với 10 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD.

 

 

Trong 5 năm qua, năng suất lúa liên tục tăng từ 55,4 tạ/ha (năm 2011) lên 57,7 tạ/ha (năm 2015), đưa Việt Nam thành nước có năng suất đứng đầu khu vực. Tới nay, nông dân gieo trồng trên 90% diện tích bằng các giống lúa mới hoặc được cải tiến. Trên 90% diện tích ngô trồng bằng giống ngô lai, trong đó ngô lai của Việt Nam chiếm khoảng trên 35% diện tích cũng như thị phần cung ứng giống với giá giống chỉ bằng khoảng 60% so với giống nước ngoài, giúp tiết kiệm khoảng trên 10 triệu USD mỗi năm cho việc nhập khẩu giống ngô.

Nhiều tiến bộ KH&CN đã được áp dụng có hiệu quả trong sản xuất rau, hoa như: Nhân giống hoa bằng nuôi cấy mô; trồng trong nhà lưới, nhà kính; sản xuất rau, hoa, quả theo qui trình GAP, công nghệ cao. Chọn tạo giống đột biến bằng ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ đã có bước tiến đáng kể bằng việc tạo ra, đưa vào sản xuất nhiều loại giống cây trồng. Nhiều loại trái cây đặc sản đã được xây dựng, bảo hộ nhãn hiệu tập thể hoặc chỉ dẫn địa lý, được xuất khẩu sang các nước trên thế giới, trong đó có những thị trường lớn, có yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng như Mỹ, châu Âu. Năm 2016, kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt 2,3 tỷ USD, lần đầu tiên vượt kim ngạch xuất khẩu gạo (đạt 2,1 tỷ USD).

Trong phát triển cây công nghiệp lâu năm, KH&CN đóng góp rất hiệu quả trong phát triển các loại cây công nghiệp quan trọng, có giá trị xuất khẩu lớn như: điều, hồ tiêu, góp phần đưa Việt Nam thành một trong những nhà xuất khẩu đứng đầu thế giới về điều, hồ tiêu. Hiện nay, gần 100% diện tích cao su, điều ở nước ta được trồng bằng các loại giống tốt, vì vậy năng suất trung bình vào loại cao nhất thế giới.

Trong phát triển cây lâm nghiệp, việc làm chủ công nghệ chọn tạo, công nghệ nhân giống đã góp phần thực hiện thành công dự án trồng mới 5 triệu hec-ta rừng, đến nay diện tích, độ che phủ rừng toàn quốc tăng liên tục. Nhờ diện tích rừng trồng tăng, năng suất được cải thiện nên sản lượng khai thác gỗ rừng trồng tăng nhanh, đạt khoảng 15 triệu m3/năm. Việt Nam đã chuyển hẳn từ khai thác gỗ rừng tự nhiên sang rừng trồng. Một số nước như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Indonesia và Úc cũng đã nhập các giống chọn tạo của Việt Nam để khảo nghiệm tìm ra các giống phù hợp trồng tại một số vùng của họ.

Trong sản phẩm chăn nuôi, ước tính khoảng 29-35% giá trị gia tăng sản lượng thịt, trứng gia cầm do kết quả nghiên cứu KH&CN và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật. Các giống gà nội, gà lai lông màu là kết quả triển khai các nhiệm vụ KH&CN ước tính chiếm khoảng 30-35% thị phần. Các tổ hợp lai hướng sữa giữa bò Vàng lai Brahman với bò HF, bò Jersey được tạo ra cho năng suất sữa cao, thích nghi tốt với điều kiện khí hậu nóng ẩm của Việt Nam.

Trong lĩnh vực thú y, đã nghiên cứu thành công, đưa vào sản xuất hầu hết các loại thuốc thông thường trong chăn nuôi, góp phần kiểm soát, ngăn chặn dịch bệnh trên gia súc, gia cầm, giúp tiết kiệm mỗi năm hàng chục triệu USD nhập khẩu vắc-xin. Đối với các vắc-xin từ trước đến nay chúng ta hoàn toàn phải nhập khẩu như vắc-xin lở mồm long móng, tai xanh, cúm gia cầm H5N1, các nhà khoa học của Việt Nam thông qua Chương trình sản phẩm quốc gia đã sản xuất được vắc-xin cúm A/H5N1, tai xanh, còn vắc-xin lở mồm long móng đang chờ kiểm nghiệm quốc gia.

Trong nuôi trồng, chế biến thủy sản, KH&CN đã đóng góp tăng trưởng cho ngành thủy sản trên 35%. Đã nghiên cứu thành công các công nghệ về sinh sản nhân tạo và chủ động sản xuất hầu hết các loại giống thủy sản. Do đó, đã từng bước hạn chế, ngừng nhập giống do nước ngoài sản xuất. Nổi bật nhất là công nghệ chọn tạo, sản xuất giống cá tra, góp phần đưa sản lượng cá tra đạt trên 1 triệu tấn/năm, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1,5 tỷ USD/năm. Đây là đàn cá tra chọn giống duy nhất tại Việt Nam và trên thế giới, cá có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn 20%, rút ngắn thời gian nuôi 20%. Đã nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ nuôi của hầu hết các đối tượng thủy sản. Công nghệ chế biến đã tiếp cận trình độ tiên tiến trên thế giới.

- Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, xây dựng: KH&CN trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp đã khẳng định được vai trò động lực, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển của lĩnh vực sản xuất công nghiệp và xây dựng. Đã thiết kế, chế tạo thành công nhiều chủng loại sản phẩm, thiết bị cơ khí đáp ứng yêu cầu kinh tế - xã hội thay thế nhập khẩu với giá thành cạnh tranh. Thông qua các hoạt động KH&CN, các Viện nghiên cứu, Tập đoàn, doanh nghiệp cơ khí chế tạo đã khẳng định được thương hiệu, vị thế ở thị trường trong nước và thế giới, đã có đủ năng lực làm tổng thầu các công trình lớn hàng tỷ USD, một số sản phẩm đã đạt tiêu chuẩn chất lượng tương đương với sản phẩm nhập khẩu, đủ điều kiện xuất khẩu cạnh tranh với sản phẩm nước ngoài, điển hình như giàn khoan tự nâng 120m (Tam Đảo 05) - giàn khoan tự nâng dầu khí lớn nhất Việt Nam được hạ thủy, bàn giao cho chủ đầu tư là Liên doanh Việt-Nga Vietsovpetro ngày 12/08/2016; các loại động cơ điện công suất đến 5 MW, tuabin công suất đến 6MW, các chủng loại biến áp đến 500kV, chất lượng tương đương sản phẩm cùng loại của châu Âu.

Đổi mới công nghệ đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, giảm giá thành sản phẩm tạo ra sản phẩm mới thay thế nhập khẩu trong các ngành kinh tế mũi nhọn. Việc đầu tư đổi mới công nghệ trong ngành khai thác than, khoáng sản đã góp phần tăng sản lượng than khai thác bình quân 14%/ năm, tỷ lệ cơ giới hóa trong khai thác hầm lò đã tăng vượt bậc từ 10% đến 80% trong những năm qua. Các nghiên cứu ứng dụng cơ giới hóa trong khai thác than hầm lò, chế tạo giàn chống thủy lực di động 2ANSHA nâng công suất khai thác cao gấp 2 lần, chi phí mét lò chuẩn bị thấp hơn 07 lần và tổn thất giảm 16%. Trong lĩnh vực dầu khí, đã nắm vững nhiều công nghệ hiện đại, áp dụng để nâng cao hệ số thu hồi dầu ở các mỏ trong khai thác thứ cấp, tam cấp như: Bạch Hổ, Rạng Đông, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng... Trong lĩnh vực điện, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã và đang thực hiện việc đổi mới công nghệ, thiết bị thông qua nhập khẩu công nghệ, nhận chuyển giao, làm chủ công nghệ mới tiên tiến của nước ngoài để phục vụ phát triển nguồn điện, lưới điện; góp phần tích cực vào việc nâng cao năng lực hệ thống điện, nâng cao chất lượng, độ tin cậy cung cấp điện, góp phần quan trọng nâng cao tỷ lệ điện khí hóa nông thôn, đảm bảo an sinh xã hội, an ninh quốc gia. Trong lĩnh vực hóa chất, đã chú trọng tìm kiếm những giải pháp kỹ thuật, cách thức sản xuất mới, đổi mới công nghệ, đổi mới và đa dạng hóa sản phẩm.

KH&CN góp phần nâng cao năng lực đội ngũ trong thiết kế, giám sát, thi công, xây lắp phát triển cơ sở hạ tầng (giao thông - xây dựng) ngang tầm khu vực. Làm chủ công nghệ thiết kế, thi công cầu treo, dây văng nhịp lớn (cầu Bạch Đằng, cầu Cao Lãnh, cầu Vàm Cống); công nghệ Natm trong xây dựng hầm (hầm đường bộ Đèo Cả, Cù Mông, Phú Gia-Phước Tượng); ứng dụng các công nghệ thi công cầu bê tông cốt thép: Công nghệ thi công lắp ghép cầu bê tông (Cầu Tân Vũ - Lạch Huyện, cầu đường sắt Bến Thành - Suối Tiên); công nghệ cầu liền khối (có ưu điểm tiết kiệm vật liệu, kết cấu thanh mảnh - cầu dài); ứng dụng công nghệ bảo trì đường bộ có hiệu quả về kinh tế, kỹ thuật, môi trường (công nghệ tái sinh nguội tại chỗ mặt đường bê tông nhựa, công nghệ tái sinh nóng mặt đường bê tông nhựa tại trạm trộn, công nghệ Microsurfacing trong bảo trì đường bộ, công nghệ bê tông nhựa rỗng thoát nước cho mặt đường bộ cao tốc). Trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng, hầu hết ở các sản phẩm đều có đầu tư đổi mới công nghệ với tỷ trọng đổi mới đạt trên 75%.

 

 

Công nghệ chiếu xạ đã được triển khai trong các lĩnh vực chế biến thủy hải sản, nông sản, đặc biệt là hoa quả phục vụ xuất khẩu; khử trùng dụng cụ y tế, chế tạo các vật liệu mới. Trong lĩnh vực kiểm tra không phá hủy, tỷ lệ nội địa hóa đạt 25%, đáp ứng được 75% nhu cầu về dịch vụ kiểm tra không phá hủy trong nước với mức tăng trưởng 11%. Phương pháp kiểm tra không phá hủy truyền thống đã được ứng dụng trong nhiều công trình xây dựng lớn để kiểm tra chất lượng cọc nhồi các trụ cầu, độ chặt nền đường, nền móng nhà xưởng, chất lượng mối hàn, đường ống, bình chứa, nồi hơi. Một số cơ sở trong nước đã chế tạo thử nghiệm thành công thiết bị đo phóng xạ (cả phần cứng, phần mềm).

- Trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, tài chính: Trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính, KH&CN, đặc biệt là công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông, đã được ứng dụng mạnh mẽ, góp phần đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, bắt kịp trình độ hiện đại của thế giới; chất lượng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng được cải thiện theo hướng hiện đại, tiện ích, giảm thủ tục, chi phí giao dịch, có sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tự động 24/24 giờ; giúp các dịch vụ ngân hàng đáp ứng tốt hơn nhu cầu thanh toán của nền kinh tế, giảm chi phí xã hội liên quan đến tiền mặt, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, rõ rệt về tập quán thanh toán trong xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng, hiệu quả quản lý nhà nước.

KH&CN tiếp tục thúc đẩy phát triển thị trường viễn thông bền vững, cạnh tranh lành mạnh, đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp và người dân; triển khai phát triển hạ tầng viễn thông băng rộng, cung cấp dịch vụ viễn thông 4G, thúc đẩy phát triển IPv6 quốc gia, hoàn thành triển khai giai đoạn 1 việc số hóa truyền dẫn, phát sóng truyền hình số mặt đất tại 05 thành phố trực thuộc Trung ương.

Các đề án lớn, phát triển công nghiệp, ứng dụng CNTT, đảm bảo an toàn thông tin, phát triển nguồn nhân lực tiếp tục được đẩy mạnh triển khai, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của đất nước. Hạ tầng kỹ thuật ngày càng được hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi triển khai ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước.

 

 

- Trong lĩnh vực quản lý tài nguyên, môi trường và phòng tránh thiên tai: KH&CN đã có những đóng góp thiết thực trong lĩnh vực quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai. Các kết quả nghiên cứu đã nâng cao chất lượng giám sát, dự báo, cảnh báo các hiện tượng khí tượng thủy văn, đặc biệt các hiện tượng khí tượng thủy văn nguy hiểm, rút ngắn thời gian tiến hành dự báo. Công nghệ dự báo, giám sát xâm nhập mặn đã được nghiên cứu, triển khai ứng dụng tại vùng Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long đạt kết quả tốt. Công nghệ đập ngầm, hào thu nước cấp nước sinh hoạt quy mô vừa và nhỏ cho khu vực miền núi, đặc biệt cho khu vực khan hiếm nước được phát triển, triển khai áp dụng trong thực tiễn. Hệ thống lấy nước kiểu đập ngầm có chi phí xây dựng công trình thấp, chỉ bằng 50-60% so với giải pháp công trình hiện có, độ bền vững cao, lưu lượng nước ổn định, chất lượng nước đạt quy chuẩn Việt Nam. Các giải pháp công nghệ phục vụ chỉnh trị, bảo vệ bờ sông bờ biển đã được ứng dụng rộng rãi, tiết kiệm cho Nhà nước hàng ngàn tỷ đồng.

Thời gian qua, KH&CN cũng đã kịp thời giúp các cơ quan quản lý Trung ương và địa phương giải quyết các vấn đề thiên tai bất thường, sự cố môi trường. Các nghiên cứu liên quan đến đánh giá xâm nhập mặn, suy giảm nguồn nước Đồng bằng sông Cửu Long dưới tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng đã được triển khai; xây dựng được bản đồ xâm nhập mặn, đánh giá mức độ tổn thương, biến động đường bờ theo các kịch bản biến đổi khí hậu để làm cơ sở khoa học đề xuất việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phân vùng sinh thái trong nuôi trồng thủy sản ứng phó với biến đổi khí hậu. Trong các sự cố môi trường nghiêm trọng (môi trường biển miền Trung, môi trường sông, hồ tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh...) các nhà khoa học đã kịp thời vào cuộc để xác định nguyên nhân.

- Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh: Trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự, đã nghiên cứu, thiết kế chế tạo các cụm khối, hệ thống kiểm tra phục vụ cho công tác bảo đảm kỹ thuật; nghiên cứu thiết kế, chế tạo mới, cải tiến, hiện đại hoá, bảo đảm kỹ thuật cho các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật theo hướng công nghệ cao, tăng tầm bắn, tăng uy lực, khả năng cơ động, tăng độ chính xác, tích hợp khả năng dẫn đường; xây dựng các hệ thống giám sát có chủ đích trên không gian mạng; xây dựng hệ thống kiểm soát luồng thông tin, cảnh báo sớm nguy cơ mất an toàn thông tin, bảo đảm an ninh, an toàn cho máy tính, hệ thống mạng quân sự và không gian mạng nói chung; đảm bảo hậu cần, y dược quân sự: đảm bảo hậu cần, quân y trong các điều kiện tác chiến mới. Điển hình như: Tổng Công ty Ba Son đã triển khai chuyển giao công nghệ đóng mới một số tàu tên lửa tấn công nhanh Molniya, khẳng định năng lực công nghệ của ngành đóng tàu quân sự Việt Nam; Viện Kỹ thuật Phòng không - Không quân, trên cơ sở hợp tác với Belarus, đã nghiên cứu, thiết kế, chế tạo thành công mẫu radar cảnh giới tầm trung sóng mét RV-02; Tập đoàn Viettel, trên cơ sở hệ thống VQ-98 được xây dựng từ Quân chủng Phòng không - Không quân, đã nghiên cứu, phát triển hệ thống cảnh giới vùng trời quốc gia qua nhiều hệ thống, phiên bản nâng cấp ngày càng hiện đại (VQ01, VQ02, VQ1-M), quản lý từ cấp quốc gia đến cấp vùng và các đơn vị;…

Trong lĩnh vực khoa học nghệ thuật quân sự và khoa học nhân văn quân sự, đã nghiên cứu chiến lược quốc phòng, chiến lược quân sự đến năm 2020; dự báo về chiến tranh tương lai, đối tượng tác chiến, khả năng tác chiến; các giải pháp ngăn ngừa, ứng phó thắng lợi nếu chiến tranh xảy ra.

Trong lĩnh vực an ninh, các nghiên cứu đã góp phần giải quyết nhiều vấn đề nảy sinh trong công tác, chiến đấu, xây dựng lực lượng, cải tiến phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ; thành tựu KH&CN đã được ứng dụng vào các lĩnh vực quản lý an ninh thông tin, công tác điện đài, nâng cao hiệu quả công tác an ninh thông tin, công tác kỹ thuật nghiệp vụ, công tác ngoại tuyến, quản lý xuất nhập cảnh, phòng chống khủng bố.

Trong lĩnh vực cảnh sát, các nghiên cứu khoa học đã góp phần giải quyết một số vấn đề phức tạp nổi lên trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo trật tự an toàn xã hội trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, phòng, chống tội phạm có tổ chức, tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm về kinh tế...

- Trong lĩnh vực y tế: Những thành tựu nổi bật trong y học đều xuất phát từ các kết quả nghiên cứu khoa học, thúc đẩy sự phát triển ngành y tế, góp phần to lớn vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Các công trình nghiên cứu đã góp phần dự phòng, đẩy lùi nhiều dịch bệnh nguy hiểm. Nhiều kỹ thuật tiên tiến trong chẩn đoán, điều trị bệnh đã được nghiên cứu ứng dụng thành công, nhiều loại bệnh đã được chẩn đoán, điều trị với tỷ lệ thành công cao, giá thành rẻ, tiết kiệm cho xã hội hàng trăm tỷ đồng, tiết kiệm ngoại tệ hàng tỷ đô la/năm do không phải ra nước ngoài điều trị. Vai trò, vị thế nền y tế Việt Nam ở một số lĩnh vực đã được nâng cao ngang tầm các nước trong khu vực và trên thế giới như: Ghép tạng, công nghệ tế bào gốc, y học hạt nhân, nội soi can thiệp, điện quang can thiệp, hỗ trợ sinh sản, an toàn truyền máu, hồi sức cấp cứu, vắc xin và sinh phẩm. Sau khi nghiên cứu thành công ghép các tạng đơn lẻ như ghép thận, gan, tim, các nhà khoa học Việt Nam đã chủ động thực hiện được ghép đồng thời 2 tạng (thận và tụy).

Chúng ta đã tiếp cận được các công nghệ tiên tiến trên thế giới, làm chủ được nhiều quy trình, kỹ thuật ứng dụng tế bào gốc để điều trị nhiều bệnh lý như thoái hóa khớp, suy tim sau nhồi máu cơ tim, chấn thương cột sống có tổn thương tuỷ hoàn toàn, ung thư buồng trứng, ung thư vú; đã làm chủ các quy trình ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử trong chẩn đoán bệnh, nhất là các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, bệnh mới phát sinh như: SART, cúm A/H5N1, bệnh do vi rút ZIKA; đã làm chủ được các kỹ thuật phẫu thuật nội soi, từ chỗ nội soi nhiều lỗ, đến nội soi một lỗ, nội soi qua lỗ tự nhiên, và nội soi robot... giúp người bệnh mau bình phục, giảm tỷ lệ biến chứng, giảm thời gian nằm viện, giảm chi phí điều trị.

Việc sử dụng bức xạ ion hóa trong y học góp phần đưa chuyên ngành y học hạt nhân, ung bướu Việt Nam theo kịp trình độ của các nước tiến tiến trong khu vực và một số nước phát triển trên thế giới. Kỹ thuật chụp ảnh cắt lớp sử dụng đồng vị F-FDG - công nghệ tiên tiến của thế giới hiện đã trở thành kỹ thuật thường quy trong chẩn đoán - điều trị các bệnh về ung thư, tim mạch, thần kinh tại Việt Nam. Đã ứng dụng thành công một số công nghệ tiên tiến trong việc sử dụng đồng vị phóng xạ phục vụ việc chẩn đoán, điều trị bệnh ung thư. Nhiều kỹ thuật xạ trị hiện đại, ngang tầm khu vực và quốc tế hiện đã được triển khai tại Việt Nam.

Việc ứng dụng kỹ thuật can thiệp mạch là bước tiến lớn trong KH&CN ngành y tế, giúp chẩn đoán sớm và điều trị thành công nhiều bệnh nguy hiểm như: Bệnh mạch máu não, bệnh nhồi máu cơ tim, đột quỵ não, tăng áp lực tĩnh mạch cửa, ho ra máu. Kỹ thuật lọc máu hiện đại trong hồi sức cấp cứu bệnh nhân nặng và ứng phó với một số dịch bệnh nguy hiểm đã được ứng dụng với hơn 9.000 bệnh nhân, với tỉ lệ tử vong giảm 20-50% so với trước.

 

 

* Hoạt động KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tại  địa phương

Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đã bám sát hơn và phục vụ trực tiếp cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, chuyển dịch theo hướng nâng cao tính ứng dụng, hiệu quả. Trong điều kiện ngân sách nhà nước còn khó khăn nhưng nhiều địa phương đã quan tâm hơn đến đầu tư cho KH&CN. Vùng miền núi Phía Bắc đã tập trung nghiên cứu, phát triển các cây con giống mới, khai thác, phát triển các nguồn gen đặc sản của địa phương. Vùng Đồng bằng sông Hồng, bên cạnh xây dựng thành công mô hình ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy, hải sản, các tỉnh/thành phố trong vùng còn chú trọng phát triển các làng nghề truyền thống gắn liền giới thiệu quảng bá du lịch, cảnh quan môi trường. Ở vùng Bắc Trung Bộ, các hoạt động nghiên cứu triển khai tập trung vào các đối tượng cây công nghiệp quy mô khá lớn như: Mía, lạc, chè, cao su, cây có múi, rau an toàn, cây dược liệu. Vùng Nam Trung Bộ tập trung vào nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp, nông dân nông thôn; nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ tiến tiến, các kỹ thuật tiến bộ trong phát triển nghề nuôi hải sản, hướng vào phát triển các sản phẩm có thế mạnh của vùng. Vùng Tây Nguyên tập trung vào ứng dụng KH&CN, đặc biệt là công nghệ cao, để phát triển các cây trồng chủ lực của vùng là: Cà phê, hồ tiêu, cao su và chè. Vùng Đông Nam Bộ, là vùng kinh tế động lực phía Nam với nhiều cơ sở đào tạo, nghiên cứu, tập trung vào phát triển công nghệ cao như: Chíp điện tử, vật liệu nano, robot, công nghệ tạo mẫu nhanh, nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ sinh học trong nông nghiệp, y - dược, xử lý môi trường. Vùng Tây Nam Bộ, tập trung vào ứng dụng KH&CN cho trồng lúa, cây ăn trái và nuôi thủy sản.

 

 

Một đặc điểm nổi bật trong hoạt động KH&CN ở các địa phương năm 2016 và những năm gần đây là đã chú trọng ngày càng nhiều hơn vào việc ứng dụng tiến bộ KH&CN, xây dựng và bảo hộ nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm chủ lực, trọng điểm, sản phẩm đặc sản của địa phương; thúc đẩy hình thành liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị để nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm, hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa sản xuất trên địa bàn. Đã xuất hiện nhiều mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được quan tâm thúc đẩy triển khai tại các địa phương. Cùng với đó là sự vào cuộc đầu tư ngày càng mạnh cho lĩnh vực nông nghiệp từ các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp, tập đoàn lớn như: VinGroup, TH True Milk hay FLC và cả các tập đoàn nước ngoài tham gia hợp tác theo hình thức đối tác công tư (PPP) như: Néstle, Syngenta... Các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ được các địa phương quan tâm, một số địa phương như TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng… đã xây dựng và triển khai các chương trình, hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp.

 

 

* Phát triển tiềm lực KH&CN

- Nguồn lực tài chính cho KH&CN: Năm 2016, Ngân sách Nhà nước dành cho hoạt động KH&CN (không tính kinh phí dành cho an ninh-quốc phòng và dự phòng) đã được Quốc hội phê duyệt là 17.730,6 tỷ đồng, chiếm ~1,4% NSNN. Việc giao chỉ tiêu kế hoạch, dự toán ngân sách sự nghiệp KH&CN năm 2016 của các bộ, ngành đã bám sát hướng dẫn của Bộ KH&CN, bảo đảm phân bổ, giao dự toán ngân sách sự nghiệp khoa học cho các đơn vị trực thuộc đúng theo số đã được Thủ tướng Chính phủ giao. Tại các địa phương, tình hình phân bổ, sử dụng kinh phí sự nghiệp KH&CN năm 2016 đã được cải thiện theo chiều hướng tốt hơn so với các năm trước. Kinh phí từ Quỹ phát triển KH&CN quốc gia tập trung duy trì, đẩy mạnh hoạt động tài trợ nghiên cứu cơ bản[1]. Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, sau khi đi vào hoạt động đã hoàn tất thủ tục hỗ trợ khoảng 100 dự án tăng cường năng lực, đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp. Đầu tư từ xã hội cho KH&CN tiếp tục tăng, thúc đẩy phát triển, thu nhận, đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất.

- Các tổ chức KH&CN: Trong năm 2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 54/2016/NĐ-CP ngày 14/6/2016 quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập trong đó có nhiều quy định mới về xác định, phân loại tổ chức KH&CN công lập để giao quyền tự chủ theo mức độ tự bảo đảm về chi thường xuyên, chi đầu tư của tổ chức KH&CN công lập; cho phép tổ chức KH&CN công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, chi đầu tư được vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp hoặc chuyển thành doanh nghiệp; điều chỉnh một số quy định để cơ chế tự chủ đồng bộ với các quy định khác có liên quan của Luật Đầu tư, Luật Đất đai... Đề án xây dựng quy hoạch mạng lưới tổ chức KH&CN đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm quy hoạch mạng lưới tổ chức KH&CN công lập phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển KH&CN, bảo đảm quy hoạch thống nhất, đồng bộ, có quy mô, cơ cấu hợp lý về tổ chức, nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển các lĩnh vực KH&CN.

 

 

- Nguồn nhân lực KH&CN

Các chính sách, quy định về việc sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động KH&CN tiếp tục được áp dụng, trong đó đã triển khai thực hiện quy định về đặc cách bổ nhiệm vào chức danh khoa học, chức danh công nghệ cao hơn không qua thi thăng hạng, không phụ thuộc năm công tác đối với viên chức có thành tích trong hoạt động KH&CN; thực hiện quy định về kéo dài thời gian công tác đối với cá nhân hoạt động KH&CN khi đến tuổi nghỉ hưu; triển khai chính sách trọng dụng nhà khoa học trẻ tài năng; triển khai Đề án đào tạo, bồi dưỡng dưỡng nhân lực KH&CN ở trong nước và nước ngoài bằng ngân sách nhà nước.

 

 

- Kết cấu hạ tầng KH&CN: Các khu công nghệ cao, khu công nghệ sinh học ứng dụng công nghệ cao, khu công nghệ thông tin tập trung tiếp tục được quan tâm phát triển, tạo điều kiện cho các hoạt động KH&CN. Những khó khăn, vướng mắc liên quan đến cơ chế chính sách, tổ chức và hoạt động của các khu công nghệ cao tiếp tục được tháo gỡ. Năm 2016, Khu Công nghệ cao Hòa Lạc đã cơ bản hoàn tất giai đoạn xây dựng hạ tầng, đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư, bắt đầu tập trung bứt phá trong các hoạt động công nghệ cao, thu hút các dự án đầu tư, phát triển tiềm lực KH&CN. Đến nay, có 09 dự án được cấp mới Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký là 4.330,4 tỷ đồng; lũy kế đến nay có 78 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 60.019 tỷ đồng trên tổng diện tích 348 ha. Đối với Khu Công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh, trong năm 2016, có 14 dự án được cấp mới Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư với tổng vốn đầu tư là 186,43 triệu USD; lũy kế đến nay có 104 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đạt 5.615,57 triệu USD. Khu Công nghệ cao Đà Nẵng đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 04 dự án, tổng vốn đầu tư 137,9 triệu USD.

Công tác xây dựng hạ tầng thông tin KH&CN tiếp tục được chú trọng phát triển. Mạng VinaREN đã thực sự trở thành kênh liên lạc gắn kết cộng đồng các nhà khoa học cả trong và ngoài nước với việc triển khai nhiều ứng dụng tiên tiến trên nền tảng hạ tầng mạng. Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN tiếp tục được hoàn thiện và đưa lên khai thác trực tuyến trên Cổng thông tin KH&CN Vista và qua mạng VinaREN. Năm 2016 đánh dấu sự phát triển vượt bậc về nguồn tin KH&CN nước ngoài, với việc bổ sung tập trung cơ sở dữ liệu ScienceDirect cho các tổ chức KH&CN cấp quốc gia.

 

 

* Thúc đẩy hình thành, phát triển doanh nghiệp KH&CN; phát triển thị trường KH&CN; hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng, đổi mới công nghệ :

- Hình thành, phát triển doanh nghiệp KH&CN, doanh nghiệp công nghệ cao: Tính đến tháng 6/2016, cả nước có khoảng 250 doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN; nhiều hồ sơ đăng ký chứng nhận đang trong quá trình thẩm định, họp hội đồng đánh giá và có khoảng 2.100 doanh nghiệp đạt điều kiện doanh nghiệp KH&CN. Doanh nghiệp KH&CN được cấp giấy chứng nhận thuộc các lĩnh vực công nghệ khác nhau, trong đó tập trung vào: Công nghệ sinh học (47%), công nghệ tự động hóa (16,7%), công nghệ vật liệu mới (14,05%). Từ năm 2012 đến nay, đã có 36 tổ chức được cấp Giấy chứng nhận hoạt động công nghệ cao, trong đó 19 tổ chức được cấp Giấy chứng nhận dự án ứng dụng công nghệ cao, 17 tổ chức được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao. Tuy số lượng tổ chức được cấp Giấy chứng nhận còn ít nhưng đây là những doanh nghiệp có đóng góp một phần không nhỏ cả về vốn đầu tư, hàm lượng chất xám về công nghệ cao. Các lĩnh vực công nghệ cao được cấp Giấy chứng nhận chủ yếu tập trung vào lĩnh vực điện tử, công nghệ thông tin (chiếm 64%), cơ khí và tự động hóa (19%), các lĩnh vực vật liệu mới và công nghệ sinh (11% và 6%). Các tổ chức được cấp Giấy chứng nhận hoạt động công nghệ cao đã tham gia đóng góp hàm lượng chất xám đáng kể cho sự nghiệp phát triển KH&CN.

- Hình thành, phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo: Vấn đề khởi nghiệp sáng tạo còn khá mới mẻ ở Việt Nam, do đó chưa có số liệu thống kê chính thức của Nhà nước về số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Tuy nhiên, theo thống kê từ Topica Founder Institute và Geektime, hiện có khoảng 1.800 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam. Năm 2016, với sự quan tâm, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các chính sách, chương trình, hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo được triển khai mạnh mẽ, thúc đẩy sự hình thành một số lượng lớn các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, kêu gọi được vốn đầu tư từ các quỹ, nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đã có hơn 20 quỹ đầu tư mạo hiểm nước ngoài đang đầu tư cho khởi nghiệp ĐMST tại Việt Nam nhưng các quỹ này cũng chưa đầu tư thành lập Quỹ 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam, chỉ có văn phòng đại diện để tìm kiếm các hạng mục đầu tư. Số lượng nhà đầu tư thiên thần ở Việt Nam tuy chưa nhiều nhưng bắt đầu có xu hướng tăng. Hầu hết đây là doanh nhân khởi nghiệp đã thành công ở thế hệ đầu thực hiện đầu tư cho các doanh nghiệp khởi nghiệp thế hệ sau, người Việt Nam ở nước ngoài, nhà đầu tư thiên thần từ nước ngoài và ở Việt Nam cũng đã bắt đầu hình thành một số mạng lưới đầu tư thiên thần. Giai đoạn 2012-2016 chứng kiến sự tăng trưởng đáng kể về cả số lượng, chất lượng của các cơ sở ươm tạo, tổ chức thúc đẩy kinh doanh khi có khoảng 21 cơ sở ươm tạo, 07 tổ chức thúc đẩy kinh doanh. Trên cả nước có khoảng 20 khu làm việc chung, tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn như Hồ Chí Minh, Hà Nội. Đề án “Thương mại hóa công nghệ theo mô hình Thung lũng Silicon ở Việt Nam” của Bộ KH&CN cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ huy động vốn đầu tư ban đầu và các vòng gọi vốn đầu tư tiếp theo từ các cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài cho các dự án khởi nghiệp trong nước có tiềm năng.

- Hình thành, phát triển các tổ chức trung gian của thị trường KH&CN: Môi trường pháp lý cho hoạt động của thị trường KH&CN cơ bản đã được hình thành, đã tạo ra cơ chế thông thoáng cho sự phát triển các yếu tố và hạ tầng của thị trường công nghệ ở Việt Nam trong các khâu: Ươm tạo công nghệ; nhập khẩu giải mã, làm chủ công nghệ, chuyển giao công nghệ. Các tổ chức trung gian hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ KH&CN được quan tâm xây dựng, phát triển.

Thị trường KH&CN được thúc đẩy phát triển, bước đầu phát huy vai trò cầu nối, gắn kết hoạt động KH&CN với sản xuất, kinh doanh. Các chợ công nghệ và thiết bị, sàn giao dịch công nghệ, các tổ chức trung gian công nghệ ở quy mô quốc gia, vùng, địa phương đã góp phần quan trọng thúc đẩy kết nối cung - cầu công nghệ, gia tăng số lượng, giá trị các giao dịch công nghệ giữa doanh nghiệp với các cơ sở nghiên cứu. Mạng lưới các trung tâm ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở 63 tỉnh, thành phố được đầu tư nâng cấp. Hiện cả nước có 08 sàn giao dịch công nghệ (tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Giang, Thái Bình, Nghệ An); 50 vườn ươm công nghệ và doanh nghiệp KH&CN. Tổng giá trị giao dịch công nghệ giai đoạn 2011-2015 đạt hơn 13.700 tỷ đồng, tăng 3 lần so với giai đoạn 5 năm trước.

Việc thành lập các sàn giao dịch công nghệ ở khu vực tư nhân đang có xu hướng gia tăng, bước đầu đã mang lại những kết quả nhất định như: Sàn giao dịch công nghệ Sáng Tạo Việt thuộc Công ty cổ phần truyền thông Trường Thành mặc dù mới được thành lập nhưng đã kết nối, thực hiện thành công một số giao dịch chuyển giao công nghệ, tài sản trí tuệ, đang là đầu mối thu hút nguồn lực KH&CN trong các lĩnh vực y tế, xây dựng, môi trường; Sàn giao dịch công nghệ trực tuyến Agricare trong lĩnh vực nông nghiệp được Công ty Agricare Việt Nam thành lập đã cung cấp được các dịch vụ tư vấn lựa chọn, đổi mới công nghệ, khởi nghiệp dựa trên công nghệ. Những mô hình trên đang tạo được diễn đàn, cơ hội để các nhà đầu tư tìm kiếm các sáng chế, kết quả nghiên cứu có tiềm năng thương mại hóa trong lĩnh vực nông nghiệp để ứng dụng phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế - xã hội.

- Phát triển thị trường KH&CN: Bên cạnh việc đẩy mạnh hỗ trợ hình thành, phát triển các định chế trung gian của thị trường KH&CN, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động mua bán, chuyển giao công nghệ, kết nối doanh nghiệp với thị trường, các sự kiện chợ công nghệ, thiết bị (Techmart)[2] [3], kết nối cung cầu công nghệ (Techdemo) [4], ngày hội khởi nghiệp công nghệ (TechFest) [5] cũng đã tạo được hiệu ứng tích cực đối với thị trường KH&CN trong nước. Sàn giao dịch công nghệ vẫn tiếp tục duy trì và triển khai công tác tư vấn, kết nối cung cầu, môi giới chuyển giao công nghệ[6].

Hệ thống cơ sở dữ liệu cung, cầu công nghệ được thiết kế gồm phần mềm xử lý cơ sở dữ liệu công nghệ để cập nhật dữ liệu về nhu cầu đổi mới công nghệ, nhu cầu tư vấn cải tiến kỹ thuật, nhu cầu liên doanh liên kết dựa trên công nghệ...; dữ liệu các công nghệ sẵn sàng chuyển giao trong và ngoài nước; dữ liệu về chuyên gia tư vấn công nghệ; dữ liệu doanh nghiệp sản xuất trong các lĩnh vực.

 

 

* Các hoạt động hỗ trợ sản xuất, kinh doanh:

 

 

- Hoạt động Tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng: Hoạt động xây dựng, áp dụng tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật trở thành một bộ phận không thể tách rời của hoạt động sản xuất, kinh doanh, là công cụ, phương tiện quan trọng để duy trì các chuẩn mực trong các quan hệ kinh tế, thương mại. Hệ thống tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) hiện hành lên đến 9.500 TCVN, mức độ hài hòa đạt trên 48% bao trùm hầu hết các lĩnh vực trong nền kinh tế giúp các doanh nghiệp chủ động tăng cường năng lực, chuẩn bị các giải pháp, chiến lược tốt nhất trong việc tuân thủ các quy tắc, quy định đáp ứng các yêu cầu về phát triển kinh tế và hội nhập sâu rộng trong thương mại hóa toàn cầu. 650 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) được ban hành là công cụ, phương tiện quan trọng để duy trì các chuẩn mực trong các quan hệ kinh tế, hỗ trợ quản lý nhà nước, đảm bảo an toàn, vệ sinh, sức khoẻ cho con người; bảo vệ động vật, thực vật và môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng và xã hội.

Hoạt động đo lường tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung, đến sản xuất, kinh doanh nói riêng thông qua các phép đo trực tiếp hoặc gián tiếp được thực hiện bởi các phương tiện đo lường nhằm đảm bảo cân, đo thống nhất, chính xác trong nước, phù hợp với thông lệ quốc tế. Hoạt động kiểm định, hiệu chuẩn phương tiện đo, đổi mới công nghệ đo đếm, sử dụng phương tiện đo điện tử giúp doanh nghiệp tiết kiệm nguyên vật liệu, giảm tổn thất trong sản xuất, kinh doanh. Hoạt động kiểm tra, thanh tra đo lường tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp, góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đặc biệt đối với các mặt hàng như: Xăng dầu, vàng trang sức mỹ nghệ.

Hoạt động đánh giá sự phù hợp (thử nghiệm, giám định, chứng nhận, kiểm định, công nhận) đã giúp doanh nghiệp khẳng định sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, giúp các sản phẩm, hàng hóa Việt Nam vượt qua các rào cản kỹ thuật trong thương mại, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng hóa; giúp doanh nghiệp có cơ sở để cải tiến kỹ thuật, thay đổi công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa và tiết kiệm chi phí trong sản xuất, kinh doanh. Hoạt động này cũng đã giúp cơ quan quản lý nhà nước quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong nước, kiểm soát hàng hóa nhập khẩu, loại bỏ, xử lý hàng hóa nhập khẩu không đảm bảo an toàn, không đạt chất lượng thâm nhập vào Việt Nam.

Để cải thiện điều kiện, môi trường đầu tư kinh doanh, nhiều điều kiện kinh doanh được loại bỏ, nhiều giải pháp để nâng cao hiệu quả của công tác kiểm tra chuyên ngành đã được triển khai đồng bộ, giảm thời gian dành cho hoạt động kiểm tra chất lượng đối với các lô hàng khi nhập khẩu vào đã có chứng chỉ chất lượng.

Giải thưởng Chất lượng Quốc gia do Thủ tướng Chính phủ quyết định trao tặng. Các doanh nghiệp được trao Giải thưởng Chất lượng Quốc gia là các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hoạt động quản lý, ứng dụng mã số mã vạch đã và đang được triển khai rộng rãi cho các doanh nghiệp Việt Nam. Văn phòng TBT Việt Nam đã liên tục, kịp thời cung cấp cho các doanh nghiệp, cơ quan quản lý về những rào cản kỹ thuật trong thương mại để có các biện pháp, điều chỉnh cho phù hợp khi tham gia vào thị trường của WTO và ngược lại cung cấp cho WTO các quy định của Việt Nam có liên quan đến TBT để đảm bảo tính minh bạch, khách quan và không phân biệt đối xử trong hoạt động thương mại. Trong khuôn khổ Chương trình quốc gia năng suất chất lượng, các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng các hệ thống quản lý, mô hình, công cụ cải tiến năng suất chất lượng tiên tiến trên cả nước đã giúp doanh nghiệp nâng cao trình độ quản lý, cải tiến các quá trình sản xuất kinh doanh, giảm thiểu lãng phí và là cơ sở để thúc đẩy nâng cao năng suất lao động trong doanh nghiệp.

- Hoạt động sở hữu trí tuệ: Các quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ được rà soát, đề xuất sửa đổi để cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, thông thoáng cho nhà đầu tư, cũng như đáp ứng các cam kết của Việt Nam khi tham gia các Hiệp định thương mại tự do. Cơ chế tự chủ tài chính cho Cục Sở hữu trí tuệ được xây dựng và áp dụng, cùng với mức phí sở hữu công nghiệp được nâng lên để đưa sở hữu trí tuệ thực sự là động lực cho ĐMST, góp phần phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Các hoạt động hỗ trợ, xác lập, quản lý và phát triển tài sản trí tuệ cho các tổ chức, cá nhân được tăng cường

- Hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng, đổi mới công nghệ: Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020 bắt đầu đưa vào triển khai các nội dung đào tạo về quản lý, quản trị công nghệ, cập nhật công nghệ mới, tiên tiến phục vụ cho nhu cầu đổi mới của doanh nghiệp; hoàn thành bản đồ công nghệ tạo, sản xuất các loại giống lúa; hỗ trợ lập bản đồ công nghệ và đã xây dựng lộ trình công nghệ trong lĩnh vực sản xuất vắcxin. Hiện Chương trình đang tiếp tục hỗ trợ lập bản đồ công nghệ và xây dựng lộ trình đổi mới công nghệ thuộc các lĩnh vực: (1) Sản xuất vật liệu và linh kiện điện tử bán dẫn; (2) Ứng dụng và phát triển công nghệ gen trong sản xuất các sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp, y tế; (3) Sản xuất chế tạo các thiết bị cơ điện tử phục vụ phát triển công nghiệp cơ khí và 09 nhóm sản phẩm trọng điểm.

Việc hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao được thể hiện qua chính sách ưu đãi, hỗ trợ của nhà nước khi doanh nghiệp triển khai các dự án đầu tư có ứng dụng công nghệ cao. Gần tương tự như với đối tượng doanh nghiệp công nghệ cao, chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cũng hướng tới thúc đẩy doanh nghiệp triển khai các dự án đầu tư mới có ứng dụng công nghệ cao.

* Kết quả hội nhập quốc tế về KH&CN: Hoạt động hội nhập quốc tế về KH&CN ngày càng đa dạng, phong phú thông qua các hình thức hợp tác nghiên cứu chung, chuyển giao công nghệ, trao đổi chuyên gia, tổ chức hội thảo, hội nghị, trình diễn công nghệ, hội chợ triển lãm công nghệ, gắn kết hơn với yêu cầu thực tiễn của các ngành, địa phương, bước đầu phục vụ có hiệu quả cho các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Thông qua hoạt động này đã đóng góp tích cực, từng bước khẳng định vị thế của Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế và khu vực, qua đó, tranh thủ được sự hỗ trợ có hiệu quả từ các diễn đàn hợp tác quốc tế, đặc biệt là đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực chuyên môn; tăng nguồn lực về tài chính, trang thiết bị nghiên cứu, phần mềm cho các tổ chức KH&CN trong nước; giúp giải quyết một số vấn đề khó khăn/thách thức về KH&CN trong nước một cách nhanh hơn và có hệ thống hơn, thông qua đó rút ngắn thời gian, tiết kiệm chi phí và tăng hiệu quả của hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ trong nước.

 

 

* Công tác cải cách hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính: Công tác cải cách hành chính trong quản lý nhà nước về KH&CN tiếp tục được thực hiện. Bộ thường xuyên chú trọng công tác xây dựng dự thảo luật, nghị định, nghị quyết, quyết định để trình cơ quan có thẩm quyền ban hành, ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành. Hệ thống văn bản pháp luật trong lĩnh vực KH&CN được xây dựng theo hướng minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tổ chức, cá nhân, phù hợp với các quy định quốc tế. Việc đánh giá tác động tham gia ý kiến, thẩm định quy định thủ tục hành chính tại dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được triển khai nghiêm túc. Công tác tiếp nhận, xử lý phản ánh kiến nghị về thủ tục hành chính được thực hiện theo đúng quy định.

Hiện đại hóa nền hành chính, ứng dụng CNTT và xây dựng Chính phủ điện tử: Công tác quản lý KH&CN từng bước được hiện đại hóa thông qua việc triển khai ứng dụng CNTT trong hoạt động chỉ đạo, điều hành; thực hiện trao đổi văn bản điện tử với Văn phòng Chính phủ thông qua trục liên thông, công khai giải quyết hồ sơ của Bộ KH&CN lên Cổng thông tin điện tử Chính phủ; triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Việc xây dựng, triển khai áp dụng, duy trì hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2008 tại các đơn vị được quan tâm, chỉ đạo. Hệ thống ISO đã kiểm soát chặt chẽ các bước tiến hành khi giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức và công dân. Việc công khai yêu cầu về hồ sơ, tài liệu, thời gian hoàn thành là cơ sở để xem xét các biện pháp cải cách làm đơn giản hóa thủ tục hành chính. Việc liên thông một cửa quốc gia được triển khai phục vụ các hoạt động xuất, nhập khẩu. Hệ thống cơ sở dữ liệu KH&CN đã được triển khai trực tuyến cung cấp khả năng tra cứu các thông tin về các đề tài, dự án KH&CN ở 03 trạng thái gồm: đang triển khai, đã triển khai, kết quả nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu.

 

 

Có thể nói, năm 2016 hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về KH&CN tiếp tục được hoàn thiện với tư tưởng xuyên suốt là lấy doanh nghiệp là trung tâm của hoạt động KH, CN và ĐMST. Đồng thời, tiếp tục đổi mới phương thức quản lý các nhiệm vụ KH&CN, tạo hành lang pháp lý rộng mở, bình đẳng đối với mọi thành phần công lập, ngoài công lập, nhà khoa học Việt Nam trong nước và ở nước ngoài tham gia hoạt động KH&CN.

 

 

Đặc biệt, các lĩnh vực KH&CN đều cùng vào cuộc, có những kết quả rõ rệt, phục vụ trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Hệ sinh thái khởi nghiệp ĐMST quốc gia đã bắt đầu hình thành và đang phát triển nhanh, tạo ra một thế hệ doanh nghiệp mới, kinh doanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ và đủ năng lực tiếp cận thị trường toàn cầu. Thị trường KH&CN tiếp tục được thúc đẩy phát triển, phát huy vai trò cầu nối, gắn kết hoạt động KH&CN với sản xuất, kinh doanh. Các chợ công nghệ và thiết bị, sàn giao dịch công nghệ, tổ chức trung gian công nghệ ở quy mô quốc gia, vùng, địa phương đã góp phần quan trọng thúc đẩy cung cầu công nghệ, gia tăng số lượng, giá trị các giao dịch, mua bán công nghệ giữa doanh nghiệp với viện, trường. Hệ thống tiêu chuẩn đo lường chất lượng tiếp tục được củng cố, góp phần tạo môi trường kinh doanh công bằng cho doanh nghiệp và ngày càng hài hòa với các tiêu chuẩn thế giới và khu vực. Hệ thống bảo hộ, thực thi quyền sở hữu trí tuệ ngày càng hoàn thiện, phục vụ đắc lực cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, bảo vệ kết quả hoạt động sáng tạo, phù hợp với cam kết quốc tế.

 

 

Chính sách sử dụng, trọng dụng, tôn vinh cán bộ KH&CN được ban hành và bước đầu đi vào cuộc sống; Hoàn thiện quy định pháp luật để đẩy mạnh việc chuyển đổi tổ chức KH&CN sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm; tiếp tục đổi mới phương thức xác định, tuyển chọn nhiệm vụ KH&CN theo cơ chế đặt hàng gắn với trách nhiệm về kết quả cuối cùng và thực hiện cơ chế hậu kiểm; Các cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, đổi mới công nghệ đã có những tác động tích cực giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ. Việc huy động kinh phí ngoài ngân sách nhà nước để triển khai hoạt động KH&CN tiếp tục được quan tâm thực hiện; Công tác thông tin, truyền thông về KH&CN tiếp tục được quan tâm đẩy mạnh với nhiều hình thức thông tin phong phú, góp phần đưa các cơ chế, chính sách đổi mới về KH&CN lan tỏa nhanh chóng, giúp xã hội hiểu hơn về vai trò và những đóng góp của KH&CN đối với sự phát triển của đất nước.

Trong năm 2017 và những năm tiếp theo, các nhiệm vụ trọng tâm được xác định gồm: (1). Hoàn thiện chính sách, pháp luật để thúc đẩy KH&CN phát triển. Hoàn thiện dự án Luật Chuyển giao công nghệ (sửa đổi) và trình Quốc hội xem xét thông qua vào Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV. Rà soát, kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ việc sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ; Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật và văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến KH&CN để phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và thúc đẩy phát triển KH&CN đến năm 2020. (2). Tập trung triển khai hiệu quả Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2020 và Đề án tái cơ cấu ngành KH&CN đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng góp phần phát triển kinh tế. (3). Tăng cường ứng dụng tiến bộ KH&CN vào việc nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa trong nước theo chuỗi giá trị. Đưa KH&CN vào phục vụ phát triển nông nghiệp, xây dựng nền nông nghiệp công nghệ cao, tập trung vào các mặt hàng chủ lực xuất khẩu; nghiên cứu, chuyển giao và sản xuất các loại giống cây trồng, vật nuôi năng suất, chất lượng cao, có khả năng chống bệnh và thích ứng với biến đổi khí hậu; tập trung hoàn thiện công nghệ chế biến, bảo quản sau thu hoạch. Hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu nông sản, nông dân ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp. Đẩy nhanh phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng KH&CN, có tỉ trọng giá trị gia tăng cao; có lợi thế cạnh tranh để tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. (4). Tập trung triển khai các nhiệm vụ KH&CN trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh để phục vụ cho việc bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh, quốc phòng và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. (5). Xây dựng và triển khai các cơ chế, chính sách phù hợp để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu phát triển, ứng dụng tiến bộ khoa học và đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh; xây dựng và phát triển thương hiệu và tham gia hiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị trong và ngoài nước. (6).Triển khai các giải pháp để nâng cao năng lực hấp thụ và đổi mới công nghệ của doanh nghiệp trong nước, nâng cao tính ứng dụng thực tiễn và thương mại hóa sản phẩm KH&CN thông qua sửa đổi hành lang pháp lý (Luật Chuyển giao công nghệ; Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa) và các chính sách, chương trình thúc đẩy mối liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp. Thúc đẩy chuyển giao công nghệ thông qua chuyển nhượng, chuyển giao quyền sử dụng tài sản trí tuệ. Triển khai các hoạt động xúc tiến công nghệ cho các doanh nghiệp trong nước từ các nước tiên tiến trên thế giới. (7). Phát triển các doanh nghiệp KH&CN thông qua thúc đẩy phát triển các cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp KH&CN, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thủ tục, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp KH&CN, doanh nghiệp công nghệ cao. Chuyển đổi thủ tục đăng ký theo hướng “hậu kiểm” để tạo điều kiện phát triển lực lượng doanh nghiệp KH&CN, tạo ra sản phẩm, hàng hóa đóng góp vào nền kinh tế. (8). Nghiên cứu các cơ hội, thách thức và đề xuất các giải pháp để tận dụng tối đa cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, đặc biệt là với các lĩnh vực mà Việt Nam có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển như: nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin và du lịch. (9). Nâng cao hiệu quả hoạt động sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn đo lường chất lượng. Xây dựng Chiến lược Sở hữu trí tuệ quốc gia. Thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong nước. Đề xuất phương án rà soát, xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia để xây dựng hàng rào kỹ thuật phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong hoạt động thương mại. (10). Tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế về KH&CN. Tích cực đàm phán, tiến tới ký kết các Hiệp định, thoả thuận hợp tác mới về KH&CN với các quốc gia, mở rộng hoạt động và nâng cao hiệu quả tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực mà Việt Nam là thành viên để huy động nguồn lực từ bên ngoài thúc đẩy phát triển KH&CN.

 

 

Một số giải pháp đã được đặt ra, đó là: Nâng cao chất lượng xây dựng, triển khai chính sách, pháp luật; nâng cao chất lượng và tính kịp thời trong công tác quản lý và tham mưu cho Chính phủ; nâng cao tinh thần phục vụ đối với các cá nhân và tổ chức hoạt động KH&CN; thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, kinh doanh hiệu quả, sáng tạo và đổi mới công nghệ; Tăng cường, nâng cao hiệu quả phối hợp công tác với các bộ, ngành, địa phương, các cơ quan có liên quan trong việc nâng cao hiệu quả xây dựng, thực thi các chính sách về KH&CN. Đưa KH&CN gắn chặt chẽ hơn với việc xây dựng, thực hiện các chương trình, quy hoạch, kế hoạch phát triển của các ngành, lĩnh vực và địa phương; Triển khai thực hiện thí điểm cơ chế đối tác công - tư, đồng tài trợ thực hiện nhiệm vụ KH&CN; Đẩy mạnh cải cách hành chính, đặc biệt là thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy trình, thủ tục, giảm thời gian, chi phí trong thực hiện thủ tục hành chính; đẩy mạnh ứng dụng CNTT, nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công, tạo mọi thuận lợi cho các nhà khoa học, các tổ chức KH&CN, các doanh nghiệp, người dân; Tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền thông về KH&CN. Tuyên truyền, cung cấp kịp thời các thông tin về cơ chế, chính sách, các kết quả hoạt động KH&CN đến các cơ quan quản lý các cấp, các ngành và nhân dân, từ đó nâng cao hiểu biết chung về KH&CN và đẩy mạnh ứng dụng KH&CN vào cuộc sống.

Thông tin báo chí liên hệ:

Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Truyền thông KH&CN, Bộ KH&CN

 

 

P 907, số 113 Trần Duy Hưng, Cầu Giấy, Hà Nội

 

 

ĐT: 04 39369506        

Email: ttkhcn@most.gov.vn


Thông tin liên hệ:

Vui lòng điền thông tin vào các ô có dấu (*) trước khi tải về máy






Thanks!

Cám ơn đã đăng ký thông tin.

Tải về!